Những năm gần đây, tại các trường đại học, các lớp, các chương trình dạy tiếng việt cho người nước ngoài liên tục được mở ra. Cùng với đó là việc xuất hiện hàng loạt giáo trình dạy tiếng Việt ở mọi trình độ. Một số học viên, bằng cách này hay cách khác, ít nhiều đã biết tiếng Việt khi đăng ký học tại các cơ sở đào tạo chính quy. Số còn lại phần lớn là những người nước ngoài học tiếng việt lần đầu làm quen với tiếng Việt (beginer). Với đối tượng này, dạy cái gì, dạy như thế nào trong những buổi học đầu tiên là vấn đề khiến nhiều giáo viên còn lúng túng. Dưới đây, xin đề xuất một hướng dạy bài mở đầu cho những đối tượng học viên đã nêu trên. Bước 1: Giới thiệu bảng chữ cái (Alphabet) và cách phát âm a.Làm quen với bảng chữ cái là bước đầu tiên nhưng hết sức quan trọng đưa người học tiếp cận với một ngôn ngữ mới. Bất kỳ ai học tiếng Anh cũng biết ngôn ngữ phổ biến nhất thế giới này có 26 chữ cái, bắt đầu bằng A và kết thúc bằng Z. Các con chữ A, B, C, phát âm là ây, bi, xi… đã trở nên vô cùng quen thuộc với mọi người. Bảng chữ cái tiếng Hàn (người Hàn Quốc gọi là Hangul) có tất cả 40 con chữ. Việc gọi đúng tên 21 nguyên âm và 19 phụ âm của Hangul cũng là yêu cầu bắt buộc trong những buổi học đầu tiên đối với ai muốn tiếp cận ngôn ngữ này. Trong quá trình giao tiếp, nhiều người nước ngoài có thể nói tiếng Việt nhưng không biết gọi tên các con chữ trong bảng chữ cái. Khi cần sử dụng, họ lấy cách phát âm bảng chữ cái tiếng Anh (A – ây, B – bi, C – xi…) để thay thế. Từ thực tế đó, chúng tôi đề xuất: nhất thiết phải giới thiệu bảng chữ cái tiếng Việt cho người học (learner) trong những buổi học đầu tiên. Tiếng Việt có 29 chữ cái, theo thứ tự như sau: A,Ă, Â,B,C,D,Đ,E,Ê,G,H,I,K,L,M,N,O,Ô,Ơ,P,Q,R,S,T,U,Ư,V,X,Y Cho đến nay, vẫn tồn tại hai cách phát âm bảng chữ cái tiếng Việt, một theo tên gọi (có từ lúc Alexandre de Rhodes truyền bá quốc ngữ) và một theo phiên âm (có từ sau 1945). ***Một số vấn đề cần lưu ý khác - Khi dạy, giáo viên cần tạo điều kiện để người nước ngoài học tiếng việt thường xuyên được thực hành kỹ năng nói, tiếp đó là các kỹ năng nghe, đọc, viết tùy trình độ. Ngoài ra, cũng cần khuyến khích học viên đặt câu hỏi. Nhiều học viên trả lời tốt nhưng rất lúng túng khi hỏi một vấn đề nào đó. - Luôn có ý thức giúp học viên sửa phát âm, nhắc lại thường xuyên những nguyên tắc phát âm thanh điệu cũng như các nguyên âm, phụ âm khó. - Trong quá trình dạy, không nên chỉ phụ thuộc vào giáo trình. Trên cơ sở vốn từ của học viên, cần linh hoạt mở rộng nội dung hội thoại để tạo hứng thú. Tuy nhiên, mở rộng đến đâu cũng là vấn đề phải lưu ý, bởi nếu mở rộng quá, đưa thêm quá nhiều từ chưa thật cần thiết sẽ làm học viên rối.